Responsive Ads Here
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dược lâm sàng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Dược lâm sàng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2019

Sử dụng thuốc và vấn đề hiến máu

DS. Phạm Công Khanh – BV Hoàn Mỹ Đà Nẵng
Hiến máu là một nghĩa cử tốt đẹp, rất cần được khuyến khích và nhân rộng trong cộng đồng. Tuy nhiên, để có thể cung cấp cho người nhận một nguồn máu khỏe mạnh và an toàn, cả người hiến và nhân viên y tế cần được trang bị những kiến thức cơ bản về các trường hợp không nên hiến máu hoặc nên tạm hoãn việc hiến máu. Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phải trì hoãn hiến máu là do người hiến máu đang sử dụng một loại thuốc, mà khi truyền máu có thể đi vào cơ thể và gây tác dụng có hại cho người nhận. Bài viết này nhằm mục đích đề cập đến những loại thuốc như vậy và cung cấp các thông tin liên quan để người dược sĩ có thể tư vấn hợp lý cho cộng đồng khi cần thiết.
     I. SỬ DỤNG THUỐC VÀ LƯU Ý KHI HIẾN MÁU
Việc sử dụng thuốc trong cộng đồng là rất phổ biến, có thể là dùng thuốc theo toa hoặc mua thuốc không kê đơn tại nhà thuốc, để điều trị các tình trạng bệnh cấp tính và mạn tính. Tuy nhiên, có những loại thuốc, mà khi một người đang sử dụng, thì người đó không được tham gia hiến máu hoặc phải trì hoãn việc hiến máu trong một khoảng thời gian nhất định. Dựa trên sự ảnh hưởng của thuốc đến việc hiến máu, người ta chia các thuốc này thành 2 nhóm chính:
  • Thuốc ảnh hưởng đến chất lượng của nguồn máu: ví dụ tiêu biểu cho nhóm này là các thuốc ức chế chức năng tiểu cầu (aspirin, clopidogrel…).
  • Thuốc ảnh hưởng có hại cho người nhận: bao gồm các thuốc có thể gây quái thai và gây độc về di truyền (như dutasteride, finasteride, acitretin, thuốc chống ung thư…) hoặc các thuốc có thể gây bệnh cho người nhận (như hormone tăng trường chiết xuất từ tuyến yên, insulin chiết xuất từ bò,…).
Trên thực tế, có nhiều yếu tố sẽ ảnh hưởng đến việc quyết định một người đang dùng thuốc có thể tham gia hiến máu hay không, như là:
  1. Loại sản phẩm máu từ người hiến sẽ được sử dụng: ví dụ một bệnh nhân đang dùng thuốc ức chế chức năng tiểu cầu thì không được tham gia hiến tiểu cầu bằng gạn tách, nhưng vẫn có thể hiến máu toàn phần khi cần thiết.
  2. Nồng độ của thuốc trong huyết tương người hiến: điều này phản ánh nồng độ thuốc tương ứng trong huyết tương người nhận và liên quan đến ảnh hưởng của thuốc trên người nhận.
  3. Đặc tính dược lý của thuốc: phản ánh tác dụng của thuốc lên người nhận và liên quan đến thời gian cần trì hoãn việc hiến máu.
  4. Sự hiện diện của các chất chuyển hóa có hoạt tính: ví dụ, acitretin là một dẫn xuất retinoid có khả năng gây quái thai cao với thời gian bán thải khoảng 2 ngày; tuy nhiên khi vào cơ thể, acitretin có thể chuyển hóa thành etretinate với thời gian bán thải kéo dài đến 120 ngày, do đó làm kéo dài thêm nữa thời gian trì hoãn việc hiến máu.
  5. Tương tác thuốc: thuốc trong huyết tương người hiến có thể tương tác thuốc với những thuốc mà người nhận đang sử dụng, có thể tạo ra các tác dụng phụ có hại cho người nhận.
Vấn đề liên quan đến việc người hiến máu đang dùng thuốc không được đề cập một cách có hệ thống cho đến khi Ferner và cộng sự công bố một bài báo mở đầu trên tạp chí Lancet năm 1989 [3]. Hơn 10 năm sau đó, Stichtenoth và cộng sự giới thiệu một danh sách các thuốc có kèm thời gian trì hoãn hiến máu và cách tính toán khoảng thời gian đó của họ [4]. Hiện nay tại các Trung tâm Huyết học & truyền máu hay các Ngân hàng máu (Blood Banking) trên thế giới đều có hướng dẫn cho người hiến và nhân viên y tế về các thuốc mà người đang sử dụng không nên hiến máu hoặc phải trì hoãn việc hiến máu. Ở Việt Nam, tại Phụ lục 1 của Thông tư 26/2013/TT-BYT ban hành ngày 16/9/2013 về Hướng dẫn hoạt động truyền máu cũng có một “Danh mục các thuốc có nguy cơ gây đột biến di truyền không được sử dụng ở người hiến máu”, trong đó, chia các thuốc có nguy cơ thành các nhóm mà người sử dụng chúng: (1) không được hiến máu vĩnh viễn, (2) trì hoãn hiến máu trong 12 tháng, (3) trì hoãn hiến máu trong 03 tháng và (4) trì hoãn hiến tiểu cầu bằng gạn tách trong 7 ngày. Bảng 1 dưới đây liệt kê và so sánh danh mục các thuốc cần trì hoãn hiến máu theo hướng dẫn của Phụ lục 1 – Thông tư 26/2013/TT-BYT và Hướng dẫn của Hiệp hội Ngân hàng máu Hoa Kỳ (American Association of Blood Banks – AABB) và Hội Chữ thập đỏ Hoa Kỳ (America Red Cross – ARC).

Bảng 1. Hướng dẫn về thời gian trì hoãn hiến máu ở những người đang dùng một số thuốc nhất định
Hoạt chấtThời gian trì hoãn hiến máu
kể từ thời điểm ngừng sử dụng thuốc
Thông tư 26/2013/TT-BYTAABB & ARC
(Cập nhật tháng 06/2019)
Các thuốc phải trì hoãn hiến máu
Hormone tăng trưởng chiết xuất từ tuyến yênKhông được hiến máuKhông được hiến máu
Insuline chiết xuất từ bòKhông được hiến máuKhông được hiến máu
Etretinate (thí dụ: Tegison)Không được hiến máuKhông được hiến máu
Acitretin (thí dụ: Neotigason, Soriatane)Không được hiến máu36 tháng
Dutasteride (thí dụ: Avodart, Avolve, Jalyn)12 tháng6 tháng
Kháng thể chống viêm gan B (Hepatitis B Immune Globulin)12 tháng12 tháng
Finasteride (thí dụ: Proscar, Propecia)3 tháng1 tháng
Isotretinoin hoặc 13-cis-retinoic acid (thí dụ: Accutane, Sotret, Claravis, Amnesteem)3 tháng1 tháng
Tretinoin (thí dụ: Retin-A, Atralin, Renova, Avita, Altinac)3 tháng
Fondaparinux (Arixtra)2 ngày
Apixaban (Eliquis)2 ngày
Dalteparin (Fragmin)2 ngày
Enoxaparin (Lovenox)2 ngày
Dabigatran (Pradaxa)2 ngày
Edoxaban (Savaysa)2 ngày
Rivaroxaban (Xarelto)2 ngày
Warfarin (Coumadin)7 ngày
Heparin7 ngày
Thalidomide (Thalomid)1 tháng
Mycophenolate mofetil (Cellcept)6 tuần
Vismodegib (Erivedge)24 tháng
Sonidegib (Odomzo)24 tháng
Teriflunomide (Aubagio)24 tháng
Leflunomide (Arava)24 tháng
Các thuốc phải trì hoãn hiến tiểu cầu (có thể hiến máu toàn phần)
Acid acetyl salicylic (thí dụ: Aspirin, Aspegic)7 ngày2 ngày
Clopidogrel (thí dụ: Plavix)7 ngày14 ngày
Ticlopidine (thí dụ: Ticlid)7 ngày14 ngày
Piroxicam (ví dụ: Feldene, Fasden, Dolonex, Faxiden, Roxam)7 ngày2 ngày
Prasugrel (Effient)3 ngày
Ticagrelor (Brilinta)7 ngày
Vorapaxar (Zontivity)1 tháng
AABB: American Association of Blood Banks
ARC: American Red Cross

Qua Bảng 1 có thể thấy rằng có sự khác biệt đáng kể về thời gian trì hoãn hiến máu theo hướng dẫn của Thông tư 26/2013/TT-BYT và hướng dẫn của AABB – ARC. Trong đó, hướng dẫn của Bộ Y tế có xu hướng thận trọng và an toàn hơn so với hướng dẫn của AABB – ARC, tức là thời gian trì hoãn hiến máu được khuyến cáo kéo dài hơn so với AABB – ARC. Đặc biệt là trường hợp của acitretin, khi mà Bộ Y tế khuyến cáo người sử dụng acitretin không được hiến máu kể cả khi đã ngừng thuốc, thì hướng dẫn của AABB – ARC khuyến cáo khoảng thời gian trì hoãn 3 năm. Ngoại lệ là trường hợp của clopidogrel và ticlopidine, trong khi Bộ Y tế khuyến cáo không hiến tiểu cầu bằng gạn tách trong 7 ngày kể từ khi ngừng thuốc, thi hướng dẫn của AABB – ARC lại trì hoãn trong thời gian dài hơn là 14 ngày.
     Vậy thì áp dụng theo hướng dẫn nào? Rõ ràng là các hoạt động y tế diễn ra tại Việt Nam thì cần tuân thủ theo hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, do đó, cần tuân thủ theo các quy định của Bộ Y tế. Với những thuốc mà thông tư của Bộ Y tế chưa hướng dẫn cụ thể thì có thể xem xét áp dụng theo các hướng dẫn của các tổ chức chuyên môn uy tín trên thế giới, cụ thể ở đây là AABB và ARC.
     Tại sao người sử dụng các thuốc trên cần phải trì hoãn việc hiến máu?
*      Hormone chiết xuất từ tuyến yên: Hormone chiết xuất từ tuyến yên được sử dụng để điều trị tình trạng chậm phát triển ở người thiếu hụt hormone tăng trưởng. Một số bệnh nhân sử dụng sản phẩm này gặp phải bệnh lý gọi là bệnh Creutzfeldt-Jakob, một bệnh lý gây thoái hóa thần kinh trung ương hiếm gặp. Do đó, các tổ chức trên thế giới cũng như Bộ Y tế đều khuyến cáo người điều trị với hormone này sẽ vĩnh viễn không được hiến máu để tránh nguy cơ gây bệnh cho người nhận.
*      Insulin chiết xuất từ bò: Trước kỷ nguyên insulin sản xuất bằng công nghệ tái tổ hợp gene, nguồn insulin cung cấp cho người bệnh đến chủ yếu từ động vật, đặc biệt là bò và lợn. Khi sử dụng insulin từ bò, người ta lo ngại người bệnh có thể bị lây truyền bệnh bò điên (mad cow disease), và có thể lây truyền tiếp cho người nhận khi hiến máu. Đây là lý do mà các tổ chức y tế khuyến cáo người sử dụng insulin nguồn gốc từ bò không được hiến máu. Điều đáng mừng là hiện nay các sản phẩm insulin trên thị trường đều là insulin người tái tổ hợp gene, không còn các sản phẩm insulin từ động vật nữa.
*      Các retinoid: các retinoid là dẫn xuất tổng hợp của vitamin A, được sử dụng trong điều trị một số bệnh lý về da liễu như mụn trứng cá, eczema, vẩy nến…với các hoạt chất như tretinoin, isotretinoin, acitretin, etretinate. Đây là các thuốc có khả năng gây quái thai cao nhất ở người (cùng với thalidomide), và chống chỉ định tuyệt đối trong thai kỳ và ở những phụ nữ có ý định mang thai (FDA phân loại X). Hơn thế nữa, các biện pháp tránh thai hiệu quả cao cần được thực hiện trước khi điều trị, trong khi điều trị và cả sau khi ngừng điều trị một khoảng thời gian, tùy thuộc vào hoạt lực và thời gian bán thải của thuốc. Song song với đó là người bệnh đang sử dụng các retinoid cũng không được hiến máu và cần một khoảng thời gian trì hoãn nhất định tùy theo từng hoạt chất như trình bày trong Bảng 1.
*      Dutasteride và finasteride: đây là các thuốc dùng để điều trị bệnh tăng sản lành tính tuyến tiến liệt (Benign Prostatic Hyperplasia – BPH), với cơ chế ức chế enzyme 5-alpha redutase, do đó ngăn cản sự biến đổi testosteron thành 5-alpha-dihydrotestosteron (DHT), là androgen đóng vai trò chính trong sự tăng sản của mô tuyến tiền liệt. Các dữ liệu tiền lâm sàng gợi ý rằng sự ức chế DHT tuần hoàn có thể ức chế sự phát triển cơ quan sinh dục ngoài ở bào thai bé trai khi người mẹ phơi nhiễm với dutasteride hoặc finasteride. Do đó, nam giới sử dụng thuốc này được khuyến cáo trì hoãn việc hiến máu trong một khoản thời gian nhất định để thuốc có thể thải trừ hết ra khỏi cơ thể, tránh nguy cơ máu chứa thuốc sẽ được truyền cho một phụ nữ mang thai mà bào thai là bé trai.
*      Kháng thể chống viêm gan B (Hepatitis B Immune Globulin): sản phẩm miễn dịch này được sử dụng để dự phòng nhiễm viêm gan B sau khi phơi nhiễm với bệnh. Tuy nhiên, thuốc không phải có hiệu quả trong mọi trường hợp. Do đó, người hiến máu đã sử dụng kháng thể chống viêm gan B cần phải trì hoãn việc hiến máu trong 12 tháng, để xét nghiệm lại đảm bảo rằng thuốc đã có hiệu quả và người hiến đã không nhiễm viêm gan B.
*      Thuốc điều trị ung thư, thuốc ức chế miễn dịch: như thalidomide, vismodegib, sonidegib, teriflunomide, leflunomide, mycophenolate mofetil là các thuốc có thể gây khuyết tật hoặc tử vong thai nhi nếu được truyền cho một phụ nữ mang thai. Do đó, cần trì hoãn việc hiến máu trong những khoảng thời gian nhất định tùy theo thuốc.
*      Thuốc chống đông máu: các thuốc này làm giảm khả năng đông máu của người hiến, nên có thể gây chảy máu quá mức khi người hiến tham gia hiến máu và cũng ảnh hưởng không tốt đến người nhận. Do đó, cần trì hoãn việc hiến máu.
*      Thuốc ức chế kết tập tiểu cầu: các thuốc này ức chế chức năng kết tập của tiểu cầu, do đó cần trì hoãn việc hiến tiểu cầu bằng gạn tách trong một thời gian; tuy nhiên, người sử dụng thuốc vẫn có thể hiến máu toàn phần khi cần thiết.
     II. MỘT CÁCH TÍNH THỜI GIAN TRÌ HOÃN VIỆC HIẾN MÁU
Bài viết lẽ ra có thể kết thúc ở phần I, khi đã cung cấp thông tin khuyến cáo về thời gian trì hoãn hiến máu và lý do cho việc trì hoãn. Nhưng đọc hết phần I của bài viết, chắc chắn người đọc (cũng như chính người viết), sẽ thắc mắc đâu là căn cứ để đưa ra các khuyến cáo về thời gian trì hoãn như trên. Điều đáng tiếc là cả trong thông tư 26/2013/TT-BYT và hướng dẫn của AABB – ARC đều không nêu rõ cơ sở hay nguyên tắc để giúp tính toán ra thời gian trì hoãn việc hiến máu.
Đầu tiên phải công nhận rằng việc trì hoãn hiến máu rõ ràng là cần thiết trong một số trường hợp để đảm bảo an toàn cho người nhận. Tuy nhiên, khoảng thời gian bao lâu là phù hợp, để vừa đảm bảo an toàn, vừa không lãng phí một nguồn máu tiềm năng có thể cứu sống nhiều người bệnh, vẫn chưa được thống nhất. Lấy ví dụ trường hợp của acitretin. Nếu áp dụng theo hướng dẫn của AABB – ARC thì 3 năm sau khi ngừng điều trị, người bệnh đã có thể tham gia hiến máu. Tuy nhiên, nếu áp dụng theo thông tư 26/2013/TT-BYT thì người bệnh đó lại không bao giờ có thể tham gia hiến máu nữa. Điều này phản ánh một thực tế dường như hiện nay vẫn chưa có một nguyên tắc thống nhất nào cho việc tính toán khoảng thời gian này. Vì vậy, phần sau đây của bài viết chỉ giới thiệu một cách tiếp cận để có cơ sở cho việc tính toán theo nghiên cứu của Christian Beckera và cộng sự [5].
Nhằm mục đích chọn lựa hay trì hoãn người hiến máu đang sử dụng thuốc, các tác giả phân chia các thuốc vào 4 nhóm:
  • Nhóm 1: Các thuốc nói chung cần lưu ý, bởi vì có tác dụng phụ thuộc vào liều lượng, bao gồm cả các thuốc với khả năng gây quái thai (teratogenic), gây độc cho thai nhi (embryotoxic/fetotoxic) (ví dụ, retinoid, thalidomide, thuốc đối kháng vitamin K).
  • Nhóm 2: Các thuốc yêu cầu lưu ý đặc biệt, bởi vì nguy cơ cho người nhận do cơ chế gây độc về di truyền (genotoxic) của thuốc không liên quan đến ngưỡng (non-threshold-related genotoxic), tức không có một ngưỡng gây độc cụ thể như các thuốc thông thường (ví dụ, một số thuốc chống ung thư).
  • Nhóm 3: Thuốc không cần lưu ý, tức không cần trì hoãn hiến máu, bởi vì không có tác dụng toàn thân, có hiệu lực thấp hoặc cửa sổ điều trị rất rộng (ví dụ, một số sản phẩm từ dược liệu), hoặc các thuốc thay thế cho các chất sinh học bình thường ở người (ví dụ, hormone tuyến giáp, chất dinh dưỡng, vitamin).
  • Nhóm 4: Các thuốc ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm máu, nhóm này đại diện là các thuốc ức chế chức năng tiểu cầu (ví dụ, aspirin).
Với mỗi nhóm thuốc được phân chia như trên, các tác giả sẽ có cách tiếp cận khác nhau để tính toán ra thời gian cần trì hoãn việc hiến máu.
Nhóm 1
Trước khi tính toán thời gian trì hoãn cho các thuốc thuộc nhóm 1, có hai vấn đề cần được đề cập:
     Một là, nhắc lại 2 thông số quen thuộc trong dược động học, Tmax và T1/2. Tmax là khoảng thời gian để thuốc đạt nồng độ tối đa trong máu sau khi sử dụng, và T1/2, hay thời gian bán thải, là khoảng thời gian cần để nồng độ thuốc trong huyết tương giảm đi một nửa. Bảng 2 mô tả lượng thuốc được thải trừ và lượng thuốc còn lại trong huyết tương (tính theo %) sau từng khoảng thời gian T1/2.
Từ Bảng 2, có thể thấy rằng sau khoảng thời gian tương ứng Tmax cộng với với 5 lần T1/2 (= Tmax + 5 * T1/2), nồng độ thuốc trong huyết tương đã thải trừ hơn 97% và chỉ còn lại khoảng 3%. Khi đó, sự thải trừ có thể được xem như là hoàn toàn và không còn tác dụng lâm sàng của thuốc phụ thuộc vào liều lượng nữa. Do đó, lượng thuốc 3% (của nồng độ thuốc điều trị) đi vào huyết tương người nhận sau khi truyền máu được xem là ngưỡng an toàn.
     Hai là, thể tích huyết tương trong sản phẩm máu được truyền cho người nhận. Máu toàn phần của người bao gồm 55% là huyết tương và 45% là các tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu). Do đó, tùy thuộc vào loại sản phẩm máu được truyền (máu toàn phần, huyết tương tươi, khối hồng cầu, khối tiểu cầu) mà nó sẽ chứa một lượng huyết tương khác nhau. Trong thực hành, người ta sẽ chia các sản phẩm máu thành 2 loại tùy theo lượng huyết tương có chứa trong 1 đơn vị máu: (1) sản phẩm máu chứa <= 50 ml huyết tương trong 1 đơn vị máu (ví dụ khối hồng cầu) và (2) sản phẩm máu chứa >= 50 ml huyết tương trong 1 đơn vị máu (ví dụ máu toàn phần, huyết tương tươi đông lạnh).
Bây giờ, bắt đầu tìm tòi cách tính cho các thuốc thuộc nhóm 1:
     – Trường hợp 1: Sản phẩm máu chứa <= 50 ml huyết tương trong 1 đơn vị máu
     Xét ở người lớn: Thể tích huyết tương trung bình của người lớn trong khoảng 39 – 44 ml/kg trọng lượng cơ thể. Các tác giả ước chừng thể tích huyết tương trung bình của một người lớn là 2,500 ml. Khi truyền một sản phẩm máu chứa <= 50 ml huyết tương, lượng huyết tương trong sản phẩm máu sẽ được pha loãng khoảng 2,500/50 = 50 lần. Giả sử rằng người hiến tham gia hiến máu tại thời điểm Tmax sau khi dùng thuốc, tức là khi nồng độ thuốc trong huyết tương đạt 100%, thì khi vào cơ thể người nhận, nồng độ thuốc đó được pha loãng 50 lần, còn khoảng 2%, thấp hơn ngưỡng 3% mà thuốc được xem như đã thải trừ ra khỏi cơ thể như đã đề cập ở trên. Có nghĩa là không cần một khoảng thời gian trì hoãn để hiến máu. Vậy thể tích huyết tương người nhận tối thiểu là bao nhiêu để vẫn duy trì được nồng độ thuốc dưới ngưỡng 3% sau khi truyền máu? Đặt giá trị đó là V (ml), giả sử sau khi truyền thì nồng độ thuốc trong huyết tương người nhận đạt ngưỡng là 3%, tức là pha loãng đi khoảng 100/3 = 33.4 lần, như vậy thể tích huyết tương người nhận tối thiểu phải là V = 50 x 33.4 = 1,670 ml.
     Xét ở trẻ sơ sinh và trẻ em: Trẻ em từ 12 tuổi trở lên có cân nặng cơ thể trung bình khoảng 44 kg và thể tích huyết tương khoảng 41 – 46 ml/kg, nên thể tích huyết tương cả cơ thể thường > 1,670 ml. Vì vậy, có thể áp dụng như trường hợp của người lớn. Đối với trẻ sơ sinh và trẻ em < 12 tuổi, với thể tích huyết tương cơ thể < 1,670 ml thì sau khi truyền, độ pha loãng sẽ không đủ và nồng độ thuốc trong huyết tương người nhận sẽ > 3%. Trong trường hợp này, một khoảng thời gian trì hoãn Tmax + 5 x T1/2 sau khi dùng thuốc cho đến khi hiến máu sẽ giúp giảm nồng độ thuốc trong huyết tương người hiến xuống dưới 3% nồng độ điều trị, và khi được truyền cho người nhận, nồng độ này sẽ thấp hơn nữa, và do đó, có thể xem là an toàn cho người nhận. Như vậy, với đối tượng người nhận máu là trẻ sơ sinh và trẻ em < 12 tuổi, nên có một khoảng thời gian trì hoãn Tmax + 5 x T1/2 kể từ sau khi người hiến ngừng điều trị bằng thuốc.
     – Trường hợp 2: Sản phẩm máu chứa > 50 ml huyết tương trong 1 đơn vị máu
Khi truyền một sản phẩm máu chứa > 50 ml huyết tương người hiến trong 1 đơn vị máu (giả sử ở thời điểm Tmax), độ pha loãng của thuốc trong huyết tương người nhận sẽ thấp hơn trong các trường hợp ở trên, do đó, nồng độ thuốc trong huyết tương có thể > 3% và được xem là không an toàn. Do đó, một khoảng thời gian trì hoãn là cần thiết để nồng độ này < 3% và các tác giả đề xuất khoảng thời gian trì hoãn là Tmax + 5 x T1/2 cho cả trẻ sơ sinh, trẻ em và người lớn.
*      Đối với thuốc gây quái thai, gây độc cho thai nhi:
Thuốc gây quái thai (teratogenic), gây độc cho thai nhi (fetotoxic/embryotoxic) thường có tác dụng phụ thuộc vào liều lượng và cần được xem xét riêng. Theo như những gì đã được biết, tác hại gây quái thai hay gây độc cho thai nhi của thuốc thường xảy ra ở một ngưỡng nồng độ tối thiểu, phụ thuộc vào loại thuốc và loại cơ quan mà thuốc gây hại. Vì lý do về đạo đức, một nồng độ ngưỡng tối thiểu như vậy không thể được khảo sát thông qua các nghiên cứu lâm sàng. Tuy nhiên, có những bằng chứng thuyết phục, từ các báo cáo ca và chuỗi ca lâm sàng với các thuốc gây quái thai đã biết, cho thấy nồng độ thuốc ở mức 3% của nồng độ điều trị là không gây ra khuyến tật sơ sinh (birth defects). Điều này được kết luận từ kết quả quan sát những trường hợp mang thai ngoài dự kiến, khi mà việc điều trị với các thuốc gây quái thai chỉ được ngừng một thời gian ngắn trước khi người phụ nữ mang thai, ví dụ với thuốc isotretinoin, thalidomide. Do đó, các tác giả đề xuất một khoảng thời gian trì hoãn là Tmax + 5 x T1/2 với các thuốc này, bất kể sản phẩm máu nào được truyền cho người nhận (tức là bất kể lượng huyết tương được truyền trong 1 đơn vị máu là <= 50 ml hay > 50 ml).
Ví dụ thử tính thời gian trì hoãn cho hoạt chất dutasteride. Theo thông tin kê toa của biệt dược Avodart (hãng GSK), dutasteride có Tmax khoảng 1 – 3 giờ và thời gian bán thải khoảng 3 – 5 tuần. Giả sử cho T1/2 tối đa là 5 tuần, tức là 35 ngày, thì sau khoảng thời gian trì hoãn = Tmax + 5 x T1/2 = 3 giờ + 5 x 35 ngày = 175 ngày ≈ 6 tháng. Như vậy là cũng phù hợp với khuyến cáo của AABB – ARC và là rất an toàn nếu áp dụng theo Thông tư 26/2013.
Đối với finasteride, Tmax là 2 giờ và T1/2 là 3 – 14 giờ. Giả sử cho T1/2 tối đa là 14 giờ, thì khoảng thời gian trì hoãn tính được = 2 + 5 x 14 = 71 giờ = 3 ngày. Như vậy, khoảng thời gian tính được (3 ngày) là ít hơn so với khuyến cáo của AABB – ARC và ít hơn rất nhiều so với hướng dẫn của Thông tư 26/2013.
Một ví dụ khác, là isotretinoin. Thời gian bán thải dài nhất của isotretinoin từng được báo cáo qua các nghiên cứu là 167 giờ. Như vậy, khoảng thời gian trì hoãn tính toán = Tmax + 5 x T1/2 = Tmax + 5 x 167 ≈ 835 giờ = 34.8 ngày, tức là cao hơn khuyến cáo 1 tháng theo AABB – ARC nhưng thấp hơn nhiều so với hướng dẫn của Thông tư 26/2013. Như vậy, áp dụng theo hướng dẫn của Bộ Y tế dường như là an toàn hơn so với khuyến cáo của AABB – ARC.
Với 3 ví dụ trên, có thể thấy rằng áp dụng một cách tính nhưng kết quả tính ra theo 3 thuốc lại khác biệt nếu đối chiếu với khuyến cáo của AABB – ARC hay Bộ Y tế, và có vẻ là khoảng thời gian trì hoãn theo hướng dẫn của Bộ Y tế sẽ an toàn hơn cho người nhận.
Nhóm 2
Nhóm 2 bao gồm các thuốc gây độc tính về di truyền (genotoxic) cho người, và chỉ sử dụng rất hạn chế trong một số chỉ định đặc biệt như điều trị ung thư. Về nguyên tắc, ngưỡng nồng độ gây độc về di truyền không thể được xác định chính xác, bởi vì ngay cả 1 phân tử thuốc cũng có thể gây tác động lên DNA của người. Trong trường hợp này, các tác giả áp dụng theo “Hướng dẫn về giới hạn tạp chất gây độc di truyền” của Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu (EMA Guideline on the Limits of Genotoxic Impurities). Theo đó, nếu nồng độ an toàn không thể xác định được, chất gây độc về di truyền nên được tránh hoặc phơi nhiễm ở mức thấp nhất. Nếu việc giảm tối đa nồng độ các chất này là không thực hiện được, thì mức phơi nhiễm tối đa 1.5 microgam/ngày được xem là an toàn, bởi nguy cơ thấp gây độc tính. Mức phơi nhiễm này được gọi là Ngưỡng báo động về chất độc (Threshold for Toxicological Concern – TTC). Do đó, lượng thuốc gây độc di truyền trong 1 đơn vị máu tối đa cho phép là 1.5 microgam. Giả sử một người lớn có thể tích huyết tương toàn cơ thể là 2,500 ml, khi hiến 1 đơn vị máu chứa <= 50 ml huyết tương, để ngưỡng chất độc trong 1 đơn vị máu tối đa 1.5 microgam thì lượng thuốc tối đa cho phép trong toàn cơ thể người hiến sẽ là 1.5 x (2,500/50) = 1,5 x 50 = 75 microgam. Tương tự, khi hiến 1 đơn vị máu chứa > 50 ml huyết tương , giả sử trung bình chứa 250 ml huyết tương, thì để ngưỡng chất độc trong 1 đơn vị máu tối đa ở mức 1.5 microgam, lượng thuốc tối đa cho phép trong toàn cơ thể người hiến là 1.5 x (2,500/250) = 1.5 x 10 = 15 microgam. Như vậy, có thể lấy ngưỡng thuốc tối đa cho phép trong toàn cơ thể người hiến là 15 microgam để có 1 đơn vị máu được hiến chứa tối đa 1.5 microgam chất độc và được xem là an toàn cho người nhận.
Để từ các dữ liệu trên đây tính ra được khoảng thời gian trì hoãn, cần phải kể đến liều lượng thuốc được dùng ở người hiến. Tùy theo loại thuốc và chỉ định mà liều lượng của các thuốc này rất biến đổi; tuy nhiên, có thể xét trường hợp tiêu biểu của một thuốc ankyl hóa là ifosfamide, với liều lượng có thể lên đến 8,000 mg/m2 được sử dụng cho người bệnh. Nếu một người cao 1.8 m và nặng 80 kg, thì diện tích bề mặt cơ thể là 2 m2, dó đó, liều của thuốc ifosfamide có thể lên đến 16,000 mg. Con số này gấp gần 1,07 triệu lần mức 15 microgam nêu trên. Nếu tính log2(1,070,000) ≈ 20.03, tức là khoảng hơn 20 lần T1/2 của thuốc thì lượng thuốc trong cơ thể mới giảm xuống mức 15 microgam. Do đó, để tăng mức độ an toàn thì các tác giả đề xuất khoảng thời gian trì hoãn là Tmax + 24 x T1/2. Trên thực tế, hầu hết thuốc điều trị ung thư thường dùng ở mức liều thấp hơn rất nhiều so với 8,000 mg/m2 và thuốc còn được phân bố ở nhiều bộ phận khác trong cơ thể người hiến chứ không chỉ trong huyết tương, vì vậy, khoảng thời gian trì hoãn Tmax + T1/2 có thể xem là an toàn cho người nhận.
Nhóm 3
Đây là nhóm các thuốc không yêu cầu thời gian trì hoãn, bởi vì chúng nằm ở một trong các loại sau:
  • Thuốc kém hấp thu đường uống: ví dụ colestipol, nystatin. Các thuốc này không cho thấy tác dụng toàn thân và do thuốc hấp thu rất kém, nên hầu như không có thuốc trong huyết tương người dùng thuốc.
  • Thuốc thay thế cho các chất sinh học trong cơ thể: ví dụ các sản phẩm chứa vitamin, enzyme và hormone, bởi vì chúng thường sử dụng ở liều không vượt quá nồng độ nội sinh trong cơ thể hoặc bản chất không gây ra tác hại gì. Tuy nhiên, có một ngoại lệ là vitamin A liều cao cần được xem xét như một thuốc thuộc nhóm 1, tương tự các dẫn xuất retinoids.
Nhóm 4
Nhóm 4 tiêu biểu là các thuốc có tác dụng ức chế kết tập tiểu cầu, bao gồm cả các thuốc chống viêm non-steroid (NSAIDs). Do đó, cần lưu ý khi sản phẩm máu được sử dụng từ ngưới hiến là khối tiểu cầu bằng gạn tách (apheresis). Hầu hết các thuốc này có tác dụng ức chế kết tập tiểu cầu thuận nghịch (reversible) phụ thuộc liều, do đó, tác động lên tiểu cầu sẽ kết thúc khi thuốc được thải trừ khỏi cơ thể. Vì vậy, một khoảng thời gian trì hoãn Tmax + 5 x T1/2 là đủ với các thuốc này, tương tự như thuốc nhóm 1.
Tuy nhiên, một số thuốc trong nhóm lại có tác dụng ức chế tiểu cầu không thuận nghịch (irreversibly), như aspirin, clopidogrel và ticlopidine, và tác dụng của chúng sẽ không kết thúc theo sự thải trừ ra khỏi cơ thể. Do đó, chức năng tiểu cầu chỉ trở về bình thường khi các tiểu cầu mới được tạo mới. Vì đời sống của tiểu cầu trong cơ thể người là khoảng 10 ngày (10% tiểu cầu được thay thế mỗi ngày), các tác giả đề xuất một khoảng thời gian trì hoãn là 10 ngày cho cả aspirin, clopidogrel và ticlopidine (mặc dù ticlopidine có thời gian bán thải đến khoảng 50 giờ).
Như vậy, các kết quả tính toán của nhóm nghiên cứu có thể được tóm tắt trong bảng dưới đây (Bảng 3).
Kết quả trên đây đến từ nghiên cứu của Christian Beckera và cộng sự, phản ánh quan điểm của tác giả và không thể thay thế cho các khuyến cáo và hướng dẫn chính thức từ các tổ chức y tế. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất người viết muốn đề cập khi giới thiệu nghiên cứu này không phải là kết quả, mà là phương pháp khoa học các nhà nghiên cứu đã sử dụng để tiếp cận và tính toán được thời gian trì hoãn của các thuốc, để người đọc có thể học hỏi và áp dụng trong nhiều trường hợp khác khi cần thiết.
     LỜI KẾT
Mối liên quan giữa sử dụng thuốc và hiến máu có thể không phải là một vấn đề quan trọng của hoạt động dược lâm sàng. Tuy nhiên, qua các khuyến cáo của Bộ Y tế và của các tổ chức y tế khác trên thế giới, có thể thấy rằng dược sĩ có vai trò tư vấn trong nhiều vấn đề của sức khỏe cộng đồng, nhằm hướng đến chăm sóc dược toàn diện cho bệnh nhân. Đặc biệt, cách tiếp cận hợp lý và khoa học của Christian Beckera và cộng sự, qua nghiên cứu được giới thiệu, có thể giúp ích rất nhiều cho người đọc về tư duy khoa học để có thể áp dụng linh hoạt trong nhiều vấn đề khác. Cuối cùng, có lẽ người viết phải gửi lời cảm ơn đến những người đọc đã có đủ kiên nhẫn để đọc đến những dòng cuối cùng của bài viết với chủ đề khá khô khan và không mấy hấp dẫn như bài viết này.
Tài liệu tham khảo:
  1. Bộ Y tế. Thông tư 26/2013/TT-BYT ban hành ngày 16/9/2013 về Hướng dẫn hoạt động truyền máu.
  2. American Association of Blood Banks. Medication Deferral List. Cập nhật tháng 06/2019.
  3. Ferner RE, Dunstan JA, Chaplin S, Baird GM. Drugs in donated blood. Lancet. 1989;2:93–94.
  4. Stichtenoth DO, Deicher RG, Frölich JC. Blood donors on medication. Eur J Clin Pharmacol. 2001;57:433–440.
  5. Becker CD, Stichtenoth DO, Wichmann MG, et al. Blood donors on medication – an approach to minimize drug burden for recipients of blood products and to limit deferral of donors. Transfus Med Hemother. 2009;36:107–13.

Thứ Ba, 30 tháng 7, 2019

Chuyển hóa Paracetamol (Acetaminophen), Acetanilide và Phenacetin

 


Giới thiệu


Paracetamol (acetaminophen), acetanilide và phenacetin thuộc nhóm thuốc giảm đau hạ sốt. Acetanilide (antifebrin) là sản phẩm đầu tiên được giới thiệu vào năm 1886, nhưng việc sử dụng nó bị hạn chế ở liều cao do tác dụng phụ độc hại của methemoglobinemia và vàng da. Phenacetin được phát hành vào năm 1887 và được sử dụng cho đến gần đây, khi các báo cáo về độc tính trên thận gây ra việc loại bỏ nó. Do chất chuyển hóa của nó (acetaminophen), phenacetin có thời gian tác dụng dài. Tuy nhiên, nó là một thuốc hạ sốt yếu hơn so với paracetamol. Paracetamol (acetaminophen) được điều chế vào năm 1893. Tuy nhiên, phải mất gần 50 năm để các nhà khoa học nhận ra rằng acetaminophen là chất chuyển hóa hoạt động của cả acetanilide và phenacetin. Và họ khi họ nhận ra thì paracetamol đã được sử dụng phổ biến.

Chuyển hóa Paracetamol, Acetanilide và Phenacetin

Sự chuyển hóa của acetaminophen (paracetamol), phenacetin và acetanilide được nêu bật trong hình dưới đây. Trong hình này, màu đỏ làm nổi bật các chất độc hại tiềm năng, trong khi màu xanh lá cây làm nổi bật các sản phẩm không độc hại có thể được cơ thể bài tiết một cách an toàn.

1. Như đã nêu ở trên, cả acetanilide và phenacetin đều là những sản phẩm của paracetamol.
2. Cả phenacetin, cũng như acetanilide đều trải qua quá trình thủy phân để thu được các dẫn xuất anilin.
3. Các dẫn xuất anilin này có thể gây ra methemoglobinemia và thiếu máu tán huyết.
4. Các đường chuyển hóa chính của paracetamol (acetaminophen) là do liên hợp O để tạo ra liên hợp O-sulfate chủ yếu ở trẻ em và liên hợp O-glucuronide chủ yếu ở người lớn.
5. Paracetamol và phenacetin cũng có thể trải qua quá trình chuyển hóa oxy hóa thông qua các hệ thống oxyase hỗn hợp cytochrom P450 (CYP450), để tạo ra các sản phẩm N-hydroxyamide .
6. Các sản phẩm N-hydroxyamide là phản ứng và có thể mất một phân tử nước để tạo ra một N-acetylimidoquinone phản ứng (một imine) (NAPQI) .
7. N-acetylimidoquinone (NAPQI) được cho là liên kết với protein gan và thận và gây độc cho gan và độc thận có liên quan đến paracetamol và phenacetin.
8. Trong điều kiện bình thường, N-acetylimidoquinone phản ứng này được liên hợp ở gan với sự trợ giúp của glutathione, sau đó có thể được bài tiết dưới dạng liên hợp acid mercapturic hoặc cysteine.
9. Trong trường hợp dùng quá liều paracetamol , dự trữ glutathione có thể bị cạn kiệt do hình thành liên hợp. Trên 70% sự suy giảm này, chất chuyển hóa N-acetylimidoquinone phản ứng sẽ bắt đầu phản ứng với các nhóm thiol nucleophilic (-SH) có trên protein gan và thận. Điều này dẫn đến sự hình thành các chất gây nghiện cộng hóa trị tạo ra hoại tử gan và hoại tử ống thận.
10. Quá liều paracetamol có thể dẫn đến hoại tử gan nặng và suy thận đến mức gây tử vong.
11. Các hợp chất chứa Sulfhydryl có thể hữu ích như thuốc giải độc cho quá độc tính liên quan đến quá liều của paracetamol. Trong số tất cả các phân tử có chứa sulfhydryl, N-acetylcystein là thuốc được sử dụng rộng rãi nhất cho độc tính của paracetamol.
N-acetylcystein phục vụ ba mục đích đối với việc điều trị bằng thuốc giải độc trong trường hợp ngộ độc và quá liều paracetamol: (i) dùng thay thế glutathione đã cạn kiệt (ii) N-acetylcystein là tiền chất của glutathione, có thể giúp bổ sung glutathione (iii) nó có thể tự phản ứng với N-acetylimidoquinone để vô hiệu hóa mối đe dọa và bài tiết nó ra khỏi cơ thể một cách an toàn. Người ta cũng tin rằng N-acetylcystein có thể giúp làm giảm sự hình thành chất chuyển hóa N-acetylimidoquinone.

Tham khảo:
1. Borne, R. F. Nonsteroidal Anti-inflammatory Agents. In: Foye’s Principles of Medicinal Chemistry 6th Edition; Williams D. A.; Lemke T. L., Lippincott Williams & Wilkins Philadelphia, 2007; p751-793.

2. Prescott, L. F. Paracetamol (Acetaminophen): A Critical Bibliographic Review. CRC Press, 1996.

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2019

Phân tích case lâm sàng theo S.O.A.P: Nhiễm trùng biến chứng bàn chân đái tháo đường


BÁO CÁO BỆNH ÁN VÀ PHÂN TÍCH THEO S.O.A.P

Họ và tên: T.C                          Năm sinh: 1962                    Giới tính: Nam
Dân tộc: Khmer                                Nghề nghiệp: Nông dân
Nhập viện: 14h ngày 19/5/2019
Cấp cứu chẩn đoán: Nhiễm trùng nóng I chân T, P/Đái tháo đường type 2.
Nhập nội tim mạch: 14h30 ngày 19/5/2019
Chẩn đoán ban đầu tại khoa Nội tim mạch Lão khoa: Tăng huyết áp.
Tiền sử bệnh: Tăng huyết áp, đái tháo đường.
Tiền sử gia đình: Không rõ.
Lối sống: Nông dân, không uống rượu, không hút thuốc lá.
Lý do vào viện: Đau sưng ngón I chân T, P nên nhập viện.
Tiền sử dị ứng: Chưa thấy có ghi nhận
Tiền sử dùng thuốc: Không sử dụng thuốc.
Khám:
Mạch: 100 lần/phút
Nhiệt độ: 370C
Huyết áp: 130/80
Nhịp thở: 20 lần/phút
Cân nặng: 70kg
Chiều cao: 1m65
Kết quả xét nghiệm hóa sinh ngày 19/05/2019:
Glucose: 30,25 mmol/l (3,9 – 6,4)
Ure: 5,74 mmol/l (2,5 – 7,5)
Creatinin 98,3 µmol/l (62 – 120)
Cholesterol: 6,11 mmol (3,9 – 5,2)
TG 3,45 mmol (0,46 – 1,88)
HDL 1,15 mmol (≥ 0,9)
GOT 4,63 U/L (≤ 37)
GPT 15,84 U/L (≤ 40)
Ion huyết đồ:
Na+139 mmol/l (135 – 150)
K+3,8 mmol/l (3,5 – 5,0)
Cl-97,1 mmol/l (95 – 105)
Calci ion hóa: 1,20 (1,17 – 1,29)



Các chỉ số bất thường của phân tích tế bào máu ngoại vi:
        Xét nghiệm vào 15:26 ngày 19/05/2019:
·        WBC 13,8 (4,6 – 10,0) k/ul
·        NEU 12,8 (2,0 – 6,9)
·        NEU% 92,7 (37,0 – 80,0)
Xét nghiệm vào 8:44 ngày 22/05/2019:
·        WBC 10,3 (4,6 – 10,0) k/ul
·        NEU 7,74 (2,0 – 6,9)
·        NEU% 74,8 (37,0 – 80,0)
Xét nghiệm vào 8:30 ngày 24/05/2019:
·        WBC 7,73 (4,6 – 10,0) k/ul
·        NEU 5,53 (2,0 – 6,9)
·        NEU% 71,5 (37,0 – 80,0)
Xét nghiệm vào 9:30 ngày 30/05/2019:
·        WBC 10,5 (4,6 – 10,0) k/ul
·        NEU 8,07 (2,0 – 6,9)
·        NEU% 76,6 (37,0 – 80,0)




TỜ ĐIỀU TRỊ
Ngày giờ
Tình trạng bệnh
Y lệnh
14h 19/5/2019
Bệnh nhân đau nhức 2 ngón chân → nhập viện.
Tiền sử: Đái tháo đường type 2.
Bệnh tỉnh
Niêm hồng
Huyết áp: 140/90 mmHg
Tim đều
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Nhiễm trùng 2 ngón chân số I, Đái tháo đường type 2.
Insulin nhanh 100UI (TDD)
Đường huyết đo tại giường 23,5 mmol/l
12h20
Nội tim mạch nhân bệnh.
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng                   
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2
Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
Insulin lantus 100UI (TDD)
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Đo đường huyết vào lúc 20h
16h
Có huyết đồ
Theo dõi tiếp
20h
Đường huyết 20,3 mmol/l
Theo dõi tiếp
8h 20/5/2019
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2
Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
1 lọ x 2 lần 8h-16h
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Chuyền: NaCl 0,9% 500ml
Xét nghiệm siêu âm mạch máu 2 chân.
Đo đường huyết lúc đói 6h ngày 21/5/2019.
6h 21/5/2019
Đường huyết 15 mmol/l
Thêm Insulin 30/70 100 UI (TDD)
8h
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2
Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
1 lọ x 2 lần 8h-16h
Insulin 30/70 100 UI (TDD)
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Thêm: Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
Clopidogrel 75 mg 1 uống

18h
Bệnh tỉnh, không sốt, sưng ngón I chân T
Mời bên ngoại băng cắt ngón 22/5/2019
8h 22/5/2019
Huyết áp: 120/80 mmHg
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2
Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
1 lọ x 2 lần 8h-16h
Insulin 30/70 100 UI (TDD)
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
Clopidogrel 75 mg 1 uống
Thêm: Insulin 30/70 50UI (TDD)
Xét nghiệm đường huyết lúc đói 6h 23/5
Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi
12
Có kết quả tổng phân tích tế bào máu ngoại vi
Theo dõi tiếp
22h
Bệnh tỉnh, sốt 380C, ngón 1 chân T đau nhiều
HA = 130/80 mmHg
Chuyền Paracetamol 1g/100ml
6h 23/5/2019
Đường huyết 12,3 mmol/l
Theo dõi tiếp
8h
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2
Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
1 lọ x 2 lần 8h-16h
Insulin 30/70 (TDD)
100 UI sáng
50 UI chiều
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
Clopidogrel 75 mg 1 uống
Dịch truyền: NaCl 0,9% 500ml
Rửa vết thương mỗi ngày
8h 24/5/2019
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2
Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
1 lọ x 2 lần 8h-16h
Insulin 30/70 (TDD)
100 UI sáng
50 UI chiều
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
Clopidogrel 75 mg 1 uống
Mời bác sĩ ngoại khoa khám vết thương
Xét nghiệm: Đo đường huyết đói 6h 25/5/2019
Tổng phân tích tế bào ngoại vi
12h
Có kết quả tổng phân tích tế bào ngoại vi
Theo dõi tiếp
16h30
Bệnh tỉnh
Ngón 1 hai chân sưng dịch
Sưng đau bàn chân
Lấy dịch cấy kháng sinh đồ
25/5/2019
6h
Đường huyết 13,4 mmol/l

Theo dõi tiếp
8h
(Thứ 7)

Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
1 lọ x 2 lần 8h-16h
Insulin 30/70 (TDD)
100 UI sáng
50 UI chiều
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
Clopidogrel 75 mg 1 uống
26/5/2019
8h
(Chủ nhật)

Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
1 lọ x 2 lần 8h-16h
Insulin 30/70 (TDD)
100 UI sáng
50 UI chiều
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
Clopidogrel 75 mg 1 uống
27/5/2019
8h
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2
Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
1 lọ x 2 lần 8h-16h
Insulin 30/70 (TDD)
100 UI sáng
50 UI chiều
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
Clopidogrel 75 mg 1 uống
28/5/2019
8h
Huyết áp 150/80 mmHg
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2

Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
1 lọ x 2 lần 8h-16h
Insulin 30/70 (TDD)
100 UI sáng
50 UI chiều
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
Clopidogrel 75 mg 1 uống
Thêm: Irbesartan 150mg 1 viên uống
Xét nghiệm: Đường huyết lúc đói 6h 29/5/2019
Dịch truyền: NaCl 0,9% 500ml
Mời khoa Chấn thương chỉnh hình cắt lọc
29/5/2019
6h
Đường huyết 13,7 mmol/l
Theo dõi tiếp
8h
Huyết áp 140/85 mmHg
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2
Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
1 lọ x 2 lần 8h-16h
Insulin 30/70 (TDD)
100 UI sáng
50 UI chiều
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
Clopidogrel 75 mg 1 uống
Irbesartan 150mg 1 viên uống
Thêm: Moxifloxacin 400mg 1 viên uống
Rửa vết loét

29/5/2019
8h
Huyết áp 140/80 mmHg
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2
Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM)
1 lọ x 2 lần 8h-16h
Moxifloxacin 400mg u
Insulin 30/70 (TDD)
100 UI sáng
50 UI chiều
Paracetamol 0,625g 1 x 2 u
Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
Clopidogrel 75 mg 1 uống
Irbesartan 150mg 1 viên uống
Xét nghiệm: đo đường huyết lúc đói 6h 31/5/2019
Tổng phân tích tế bào ngoại vi
Mời ngoại khoa cắt lọc
11h
Có kết quả tổng phân tích tế bào ngoại vi
Theo dõi tiếp
31/5/2019
6h
Đường huyết 14,0 mmol/l

8h
Huyết áp 140/80 mmHg
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2
Huyết áp 140/80 mmHg
Bệnh tỉnh, tiếp xúc được
Da niêm hồng
Loét ngón 1 chân bên P chảy mủ
Tim đều rõ
Phổi trong
Bụng mềm
Chẩn đoán: Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón 1 chân T, P; Đái tháo đường type 2
Dịch truyền: NaCl 0,9% 500ml (TTM)
Xét nghiệm: Đo đường huyết lúc đói vào 6h mỗi ngày



TƯ VẤN THUỐC CHO BÁC SĨ
Bệnh nhân có tình trạng nhiễm trùng ngón chân cái I chân T, P do biến chứng “bàn chân đái tháo đường”. Vì thế, các bác sĩ đã sử dụng kháng sinh để điều trị nhiễm trùng bàn chân cho bệnh nhân với Cefoxitin 2g x 2 lần/ngày.
Tuy nhiên, Cefoxitin không đáp ứng với tình trạng nhiễm trùng của bệnh nhân. Tối ngày 24/5/2019, bệnh nhân bị sưng và đau lan lên xương chày vùng cẳng chân, kèm sốt. Bệnh nhân tự ý uống Ampicillin/Sulbactam thì thấy đỡ nhiều, hết hẳn sưng nóng đỏ đau ngón chân và sau đó uống liên tục cho tới sáng thứ 2 (27/5/2019) thì bác sĩ nói với bệnh nhân không uống thuốc bừa bãi.
Sau khi ngừng tự ý sử dụng Ampicillin/Sulbactam, tình trạng viêm, sưng đau ngón chân, lan lên tận xương chày lại xuất hiện, đồng thời bệnh nhân có sốt vào ban đêm. Sử dụng Cefoxitin không đáp ứng.
Đến 29/5/2019, em đóng vai trò là dược sĩ lâm sàng đã tư vấn cho bác sĩ: Tình trạng nhiễm khuẩn của bệnh nhân đáp ứng với Ampicillin/Sulbactam nhưng không đáp ứng với Cefoxitin → có thể nghi ngờ bệnh nhân bị nhiễm trực khuẩn Gr (–) tiết ra β-lactamase. Nên sử dụng một kháng sinh có phổ tác dụng trên cả kỵ khí, vì vết thương có mùi hôi.
BS. điều trị đồng ý quan điểm vết thương có thể nhiễm vi khuẩn kỵ khí, vì có mùi hôi đặc trưng. Vì thế thêm Moxiflocaxin 400mg/ngày uống để tác động trên vi khuẩn kỵ khí. Moxiflocaxin thuộc nhóm Quinolon không bị tác động bởi β-lactamase, phổ rộng trên cả vi khuẩn kỵ khí (ngoại trừ B. fragilis). Moxifloxacin là một kháng sinh thế hệ mới, có tác dụng trên cả những vi khuẩn đề kháng với quinolon thế hệ 2 bằng cách đột biến gen gyrAparC.
Tuy nhiên, 2 ngày sau, tình trạng của bệnh nhân vẫn không đỡ. 8h ngày 31/05/2019, Bác sĩ điều trị hỏi ý kiến tại giường với dược sĩ lâm sàng về kháng sinh.
Trả lời: Do cả Cefoxitin và Moxifloxacin đều không đáp ứng với vi khuẩn gây nhiễm trùng → nghi ngờ bệnh nhân nhiễm trùng Bacteroides fragilis hoặc Pseudomonas aeruginosahoặc là vi khuẩn đề kháng. Tuy nhiên, bệnh nhân lại đáp ứng với Ampicillin/Sulbactam và không có dấu hiệu mủ màu xanh nên có thể loại bỏ nghi ngờ nhiễm P. aeruginosa.
Bacteroides fragilis nhạy cảm với Metronidazol và Amoxicillin/acid clavulanic (và các thuốc β-lactam phối hợp với chất ức chế β-lactamase). Vì thế, đề xuất với bác sĩ sử dụng Amoxicillin/acid clavulanic thay cho Cefoxitin.
Tuy nhiên, sau khi bác sĩ nghe ý kiến xong lại quyết định chờ kháng sinh đồ (làm KSĐ từ 16h30 ngày 24/05/2019, đến ngày 31/05/2019 vẫn chưa có kết quả). Lý do vì Amoxicillin/acid clavulanic không có sẵn trên khoa cho nên bác sĩ không muốn thay đổi kháng sinh ngay (Moxifloxacin và Cefoxitin lại có sẵn trên khoa nên có thể thay ngay được).




PHÂN TÍCH CASE LÂM SÀNG THEO S.O.A.P
1.      Subjective: Thông tin chủ quan.
Tuổi: 57                     Giới tính: Nam                      Nghề nghiệp: Nông Dân
Tiền sử bệnh: Tăng huyết áp, đái tháo đường.
Tiền sử gia đình: Không rõ.
Lối sống: Nông dân, không uống rượu, không hút thuốc lá.
Lý do vào viện: Đau sưng ngón I chân T, P nên nhập viện.
Cấp cứu chẩn đoán: Nhiễm trùng nóng I chân T, P/Đái tháo đường type 2.
Chẩn đoán ban đầu tại khoa Nội tim mạch Lão khoa: Tăng huyết áp.
Tiền sử dị ứng: Chưa thấy có ghi nhận
Tiền sử dùng thuốc: Không sử dụng thuốc.
2.      Objective – thông tin khách quan.
-         Khám lâm sàng:
·        Mạch: 100 lần/phút
·        Nhiệt độ: 370C
·        Huyết áp: 130/80
·        Nhịp thở: 20 lần/phút
·        Cân nặng: 70kg
·        Chiều cao: 1m65
BMI = 25,7.
Khám ghi nhận: Bệnh tỉnh, tim đều, phổi trong, bụng mềm.
Kết quả xét nghiệm hóa sinh máu: Các chỉ số bất thường là
Glucose: 30,25 mmol/l (3,9 – 6,4)
Cholesterol: 6,11 mmol (3,9 – 5,2)
TG 3,45 mmol (0,46 – 1,88)
Các thông số còn lại bình thường.
-         Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón I bàn chân T, P/Đái tháo đường type 2/Tăng huyết áp/Rối loạn lipid máu.
-         Thuốc điều trị:
+ Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM): 1 lọ x 2 lần 8h-16h
+ Moxifloxacin 400mg uống
+ Insulin 30/70 (TDD):       100 UI sáng
50    I chiều
+ Paracetamol 0,625g 1 x 2 uống
+ Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
+ Clopidogrel 75 mg 1 uống
+ Irbesartan 150mg 1 viên uống
3.      Assessment – Đánh giá tình trạng bệnh nhân.
3.1.           Nguyên nhân.
+ Tiền sử của bệnh nhân: Đái tháo đường type 2.
+ Khám lâm sàng thấy:        Mạch: 100 lần/phút
Huyết áp: 130/80 mmHg
                                                Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt, phổi trong, tim đều, bụng mềm.
Bệnh nhân 58 tuổi, giới tính nam, chiều cao 1m65, cân nặng 70kg, chỉ số BMI = 25,7. Thể trạng: thừa cân – tiền béo phì.
Các yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng tăng huyết áp của bệnh nhân:
        Nam giới, > 55 tuổi.
        Rối loạn lipid máu: Cholesterol: 6,11 mmol/l (3,9 – 5,2) ,TG 3,45 mmol/l (0,46 – 1,88).
        Béo phì.
        Béo bụng (theo ước đoán quan sát)
        Đái tháo đường: Đường huyết đo được lúc nhập viện là 30,25 mmol/l, đo đường huyết lúc đói 6h ngày 21/5/2019 là 15,0 mmol/l.
-         Cận lâm sàng:  Các chỉ số bất thường là
·        Glucose: 30,25 mmol/l (3,9 – 6,4)
·        Cholesterol: 6,11 mmol/l (3,9 – 5,2)
·        TG 3,45 mmol/l (0,46 – 1,88)
Các thông số còn lại bình thường.
-         Các chỉ số tế bào máu bất thường vào 15:26 ngày 19/05/2019:
·        WBC 13,8 (4,6 – 10,0) k/ul
·        NEU 12,8 (2,0 – 6,9)
·        NEU% 92,7 (37,0 – 80,0)
        Do bệnh nhân có nguy cơ cao bệnh mạch vành: tăng huyết áp/rối loạn lipid máu/ĐTĐ type 2.
        Đánh giá nguy cơ loét dạ dày của bệnh nhân:
+ Sử dụng thuốc chống kết tập tiểu cầu (Clopidogrel).
+  Nằm viện > 7 ngày.
3.2.           Đánh giá tình trạng của bệnh nhân.
v Vấn đề 1: Nhiễm trùng ngón chân I chân T, P.
        14h ngày 19/5/2019, bệnh nhân đau nhức 2 ngón chân, vì thế nhập viện. Chẩn đoán: Nhiễm trùng ngón chân I chân T, P.
        Dấu hiệu của nhiễm trùng là: Triệu chứng viêm ngón chân, chỉ số Bạch cầu đa nhân trung tính tăng cao (12,8 k/ul) cho thấy tình trạng nhiễm trùng cấp tính.
Các chỉ số bạch cầu còn lại bình thường.
        Bệnh nhân là nông dân, bị rách ngón chân do đi làm nông. Bệnh nhân bị biến chứng “bàn chân đái tháo đường” là hậu quả của nhiều tổn thương phức tạp khác nhau của bệnh đái tháo đường như: tổn thương thần kinh, tắc mạch, nhiễm trùng…
·        Bệnh thần kinh ngoại biên đái tháo đường: Tổn thương thần kinh ngoại biên không chỉ gây rối loạn thần kinh cảm giác mà còn gây rối loạn thần kinh dinh dưỡng. Rối loạn cảm giác ở bàn chân khiến cho bệnh nhân có thể không biết được tình trạng tổn thương ở ngón chân và gây nên nguy cơ nhiễm trùng bàn chân rất cao và thường đi khám muộn khi ổ nhiễm trùng đã lan rộng.
·        Bệnh động mạch ngoại biên: Bệnh nhân đái tháo đường có nguy cơ bị xơ vữa động mạch ở khắp cơ thể, trng đó bệnh động mạch ngoại biên chi dưới khá thường gặp. Mạch máu xơ vữa dẫn tới giảm tưới máu phần chi bên dưới → làm tăng nguy cơ viêm loét, nhiễm trùng…
·        Đường huyết cao là môi trường lý tưởng cho các vi khuẩn trong vết thương sinh sản và phát triển.
·        Đồng thời, đường huyết cao cũng làm suy giảm chức năng của hệ miễn dịch.
Đánh giá: Chưa thể kiểm soát tình trạng nhiễm trùng bàn chân đái tháo đường của bệnh nhân bằng kháng sinh.
v Vấn đề 2: Tăng huyết áp
Bệnh nhân có tăng huyết áp độ 1 theo phân loại của ESH/ESC 2018. Bệnh nhân được sử dụng Irbesartan để kiểm soát tăng huyết áp ở mức chấp nhận được 140/90 mmHg.
Đánh giá nguy cơ tim mạch: Bệnh nhân có nguy cơ tim mạch rất cao (ĐTĐ có kèm tổn thương cơ quan đích), cần điều trị ngay bằng thuốc.
Mục tiêu điều trị (Tham khảo từ khuyến cáo của ESC/ESH 2018 và cập nhật của Hội Tim mạch Việt Nam 2018):
·        Huyết áp chấp nhận được là < 140/90 mmHg.
·        Nếu bệnh nhân dung nạp được thì hạ ≤ 130/80 mmHg, nhưng HATT ≥ 120 mmHg và HATr từ 70 – 79 mmHg.
ACEI và ARB là 2 nhóm thuốc đầu tay để kiểm soát huyết áp trên bệnh nhân đái tháo đường và bệnh thận mạn.
Thỉnh thoảng bệnh nhân có tình trạng tăng huyết áp tâm thu đơn độc 140/80 mmHg, tuy nhiên, không nên sử dụng thuốc lợi tiểu như lợi tiểu thiazid cho bệnh nhân ĐTĐ.
v Vấn đề 3: Rối loạn lipid máu.
Bệnh nhân có tình trạng rối loạn lipid máu: Cholesterol: 6,11 mmol/l (3,9 – 5,2) và TG 3,45 mmol/l (0,46 – 1,88).
·        Đánh giá bệnh nhân:
+ Bệnh nhân có nguy cơ Bệnh tim mạch rất cao (đã có Đái tháo đường type 2).
+ Nguy cơ 10 năm của bệnh tim mạch xơ vữa động mạch (pooled cohort): 37,8%.
·        Mục tiêu điều trị: Bệnh nhân có nguy cơ bệnh tim mạch rất cao, cần giảm LDL-C <1,8 mmol/L (70mg/dL) và/hoặc giảm được ≥ 50% mức LDL-C nền khi không đạt được mục tiêu trên.
Triglycerid của bệnh nhân tăng cao 3,45 mmol/l (2 - 6 mmol/l), điều trị theo mục tiêu non-HDL-C.
·        Đánh giá điều trị:
Cần sử dụng statin liều cao. Vì thế cần tăng liều rosuvastatin cho bệnh nhân từ liều trung bình (10mg/ngày) lên liều cao (20mg/ngày) – theo khuyến cáo của ATP IV và Khuyến cáo về điều trị tăng lipid máu của Hội tim mạch Việt Nam 2015.
v Vấn đề 4: Đái tháo đường type 2.
Bệnh nhân lúc nhập viện có đường huyết rất cao 30,25 mmol/l có biến chứng bàn chân đái tháo đường, vì thế cần khởi đầu điều trị cho bệnh nhân với liệu pháp insulin (có hoặc không có thuốc khác) – theo khuyến cáo của ADA 2019.
(Theo khuyến cáo của ADA 2015 đến nay: đo HbA1c nên được làm phòng thí nghiệm sử dụng phương pháp DCCT (Diebetes Control and Complications Trail) và được chuẩn hóa bởi NGSP (vì NGSP là tổ chức của Hoa Kỳ nên ở Việt Nam sẽ là được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế).
Vì thế, hiện tại bệnh viện đa khoa tỉnh Trà Vinh chưa đủ điều kiện để đo HbA1c)
·        Mục tiêu điều trị: đường huyết lúc đói nằm trong khoảng 3,9 đến 6,7 mmol/l và nồng độ 2h sau bữa ăn phải < 7,8 mmol/l. Đối với người cao tuổi, mục tiêu đường huyết là 5,6 đến 8,3 mmol/l lúc đói và < 11,1 mmol/l sau bữa ăn.
·        Đánh giá điều trị: Bệnh nhân chưa được kiểm soát đường huyết. Cân nhắc bổ sung thuốc điều trị đái tháo đường type 2.
        Do bệnh nhân có nguy cơ cao bệnh mạch vành (tăng huyết áp/rối loạn lipid máu/ĐTĐ type 2) nên bác sĩ sử dụng clopidogrel 75 mg/ngày để phòng ngừa huyết khối.
        Đánh giá nguy cơ loét dạ dày của bệnh nhân:
+ Sử dụng thuốc chống kết tập tiểu cầu (Clopidogrel).
+  Nằm viện > 7 ngày.
Đánh giá: chưa cần thiết sử dụng thuốc ngừa loét dạ dày tá tràng trên bệnh nhân này.
        Bệnh nhân hiện có tình trạng béo phì mức độ I theo thang đo của người châu Á, BMI = 25,7, bệnh nhân cần giảm cân nếu có thể bằng thay đổi lối sống và chế độ ăn uống.
Mục tiêu giảm cân:
·        Mục tiêu lý tưởng: BMI từ 19 – 23 (51,7 – 62,6 kg) nếu bệnh nhân có thể cố gắng.
·        Mục tiêu có thể chấp nhận được BMI ≤ 24,9 (67,8 kg).
3.3.           Đánh giá thuốc điều trị hiện thời.
        Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM) x 2 lần 8 – 16h được sử dụng cho tình trạng nhiễm trùng ngón chân của bệnh nhân. Cefoxitin là một cephalosporin thế hệ 2 đường tiêm, có tác dụng tốt trên cả vi khuẩn kỵ khí (tác dụng tốt hơn Cephalosporin thế hệ 3 và 1). Cơ chế Cefoxitin là ức chế không hồi phục các PBP nối peptidoglycan, do đó ngăn cản sự tổng hợp các lớp peptidoglycan hình thành tế bào vi khuẩn. Cefoxitin là kháng sinh diệt khuẩn.
Tác dụng không mong muốn: Dị ứng, tiêu chảy do kháng sinh, nhiễm C. difficile… liều cao gây kích thích thần kinh.
        Moxifloxacin 400mg uống được sử dụng cho tình trạng nhiễm trùng ngón chân của bệnh nhân. Moxifloxacin là quinolon thế hệ 4, thuốc ức chế DNA gyrase, một loại topoisomerase loại II và topoisomerase IV, enzyme cần thiết để tách DNA của vi khuẩn, do đó ức chế sự sao chép của tế bào. Moxifloxacin là một kháng sinh diệt khuẩn, có tác dụng trên cả những chủng vi khuẩn đề kháng với quinilon thế hệ 2 bằng cách đột biến gyrAparC.
Moxifloxacin có sự mở rộng phổ sang vi khuẩn kỵ khí so với levofloxacin (thế hệ 3), tuy nhiên lại không còn tác dụng trên Pseudomonasnhư FQ thế hệ 2 và 3. Moxifloxacin cũng không có tác động trên B. fragilis.
Tác dụng không mong muốn: Dị ứng, kích ứng da, làm đau gân, đứt gân, gây kéo dài đoạn QT… do có phổ rộng nên thuốc có thể gây tiêu chảy do kháng sinh, nhiễm C. difficile…
        Sử dụng Paracetamol 650mg x 2 lần/ngày để giảm đau và hạ sốt cho bệnh nhân. Cơ chế của Paracetamol còn được tranh cãi: thuốc có tác dụng ức chế COX, chỉnh hệ cannabinoid nội sinh, ngoài ra thuốc còn ức chế kênh natri giống như lidocain và procain.
Tác dụng không mong muốn của thuốc: kích ứng dạ dày, buồn nôn, nôn, dị ứng… quá liều paracetamol có thể gây hoại tử gan, suy gan và suy thận.
        Rosuvastatin 10mg/ngày là thuốc hạ lipid máu, cần phải sử dụng liều cao cho bệnh nhân trên vì bệnh nhân bị hội chứng mạch vành theo khuyến cáo của ATP IV. Vì thế, cần phải tăng liều rosuvastatin lên 20mg/ngày.
Thuốc ức chế chọn lọc và cạnh tranh men khử HMG-CoA reductase, là men xúc tác quá trình chuyển đổi 3-hydroxy-3-methylglutaryl-coenzym A thành mevalonat, một tiền chất của cholesterol, vì thế ức chế tổng hợp cholesterol. Thiếu cholesterol phát sinh cơ chế bù tăng tổng hợp LDL-R nên giảm chủ yếu LDL huyết, giảm vừa phải triglycerid. Rosuvastatin giảm Triglycerid hiệu quả hơn các statin khác.
Tác dụng không mong muốn: Đau cơ, teo cơ, độc gan, nhức đầu, khó tiêu, đau bụng…
        Clopidogrel 75mg/ngày uống được sử dụng để ngăn ngừa biến cố tim mạch do huyết khối. Cơ chế của clopidogrel: Ức chế ADP tiểu cầu gắn vào receptor P2Y12 của tiểu cầu do đó ức chế hoạt hóa phức hợp GPIIb/IIIa và ức chế kết tập tiểu cầu. ADP gây kết tập tiểu cầu rất mạnh.
Tác dụng không mong muốn: tăng mức độ và thời gian chảy máu, loét dạ dày tá tràng…
        Irbesartan 150mg/ngày 1 viên uống có tác dụng chống tăng huyết áp, và là thuốc đầu tay điều trị tăng huyết áp ở bệnh nhân đái tháo đường và bệnh thận mạn. Cơ chế của Irbesartan là ức chế thụ thể angiotensin II (loại AT1) mạnh, do đó làm mất tác dụng của hệ RAA, dẫn đến hạ huyết áp và giảm tái hấp thu Na+. Aldosterol huyết thanh giảm sau khi dùng Irbesartan, tuy nhiên kali huyết tương không thay đổi đáng kể (tăng < 0,1 mEq/L) với liều khuyến cáo.
Tác dụng không mong muốn: hạ huyết áp, ngất xỉu do hạ huyết áp, giảm tưới máu thận…
        Insulin là hormon duy nhất của cơ thể có tác dụng làm hạ đường máu. Insulin gắn lên thụ thể của insulin trên tế bào đích, ảnh hưởng lên quá trình chuyển hóa glucid, lipid và protein trong cơ thể.
+ Insulin lantus (TDD) chứa insulin glargine, loại insulin tương tự insulin người được sản xuất bằng kỹ thuật tái tổ hợp AND, có độ hòa tan thấp ở pH trung tính. Thuốc có tác dụng chậm, chỉ cần chích 1 lần/ngày, giai đoạn thuốc đạt được ổn định trong vòng 2 – 4 ngày sau liều đầu tiên.
+ Insulin 30/70 (TDD) là kết hợp của regular (insulin tác dụng nhanh) và NPH (insulin tác dụng trung bình – bán chậm) theo tỷ lệ 3:7.
Tác dụng không mong muốn: hạ glucose huyết, gây hiện tượng somogyi, dị ứng Insulin, loạn dưỡng mô mỡ, tăng cân.
3.4.           Tương tác thuốc.
        Irbesartan + insulin glargine
Irbesartan làm tăng tác dụng của insulin glargine bằng cơ chế tương tác không xác định. Sử dụng Thận trọng/Giám sát. Sử dụng đồng thời insulin và ARB có thể yêu cầu điều chỉnh liều insulin và tăng theo dõi glucose.
Nhận xét tương tác thuốc:Tương tác này có lợi trong trường hợp này vì bệnh nhân chưa thể kiểm soát được đường huyết. Vì thế, không cần thay đổi thuốc.
4.      Plan – kế hoạch điều trị.
4.1.           Mục tiêu điều trị.
1. Điều trị nhiễm trùng ngón I chân T, P.
2. Điều trị đái tháo đường type 2.
3. Điều trị tăng huyết áp.
4. Điều trị rối loạn lipid máu.
5. Phòng ngừa huyết khối và giảm các biến cố tim mạch.
6. Giảm cân.
4.2.           Điều trị.
·        Điều trị không dùng thuốc:
+ Giảm ăn muối (<2g/ngày).
+ Tránh dùng các chất kích thích như ma túy, thuốc lá, uống quá nhiều rượu, trà, cà phê…
+ Vận động thể lực: Tập thể lực đều đặn 30 ngày phút, tất cả các ngày trong tuần. Tập vừa sức, nên để ra mồ hôi.
+ Ăn nhiều rau xanh, thực vật, hạn chế dầu mỡ, đồ ăn làm sẵn, đồ chiên xào và nướng.
+ Hạn chế ăn thịt đỏ (tức thịt lợn, dê, bò…), nên ăn cá và thịt trắng (loại bỏ da).
+ Hạn chế ăn nhiều chất ngọt, tinh bột như cơm, khoai, sắn…
+ Có thể ăn dầu thực vật không bão hòa, nhưng không ăn bơ thực vật chế biến từ chúng.
+ Giữ chỉ số BMI lý tưởng từ 19 – 23, nếu không thì BMI ≤ 24,9 cũng chấp nhận được. Giữ vòng bụng dưới 90.
·        Điều trị bằng thuốc:
+ Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM): 1 lọ x 2 lần 8h-16h
+ Moxifloxacin 400mg uống
+ Insulin 30/70 (TDD):       100 UI sáng
50    I chiều
+ Paracetamol 0,625g 1 x 2 uống
+ Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối
+ Clopidogrel 75 mg 1 uống
+ Irbesartan 150mg 1 viên uống
·        Hướng dẫn sử dụng:
+ Cefoxitin 2g 1 lọ (TTM): 1 lọ x 2 lần 8h-16h
Tác dụng không mong muốn: Dị ứng, tiêu chảy do kháng sinh, nhiễm C. difficile… liều cao gây kích thích thần kinh.
+ Moxifloxacin 400mg/ngày uống:
Tác dụng không mong muốn: Dị ứng, kích ứng da, làm đau gân, đứt gân, gây kéo dài đoạn QT… do có phổ rộng nên thuốc có thể gây tiêu chảy do kháng sinh, nhiễm C. difficile… Thuốc cũng gây kích thích thần kinh.
·        Nếu có triệu chứng như tiêu chảy, cần báo với nhân viên y tế. Nguyên nhân là các kháng sinh phổ rộng tiêu diệt các vi khuẩn trong ruột, làm rối loạn hệ khuẩn chí. Xử trí bằng cách bổ sung men vi sinh cho bệnh nhân.
·        Nếu có nhiễm C. difficile với các biến chứng nặng như viêm đại tràng giả mạc, sử dụng Vancomycin 1g đường uống để điều trị.
+ Insulin 30/70 (TDD): 100 UI sáng và 50 UI chiều
Tác dụng không mong muốn: hạ glucose huyết, gây hiện tượng somogyi, dị ứng Insulin, loạn dưỡng mô mỡ, tăng cân.
Vị trí tiêm Insulin thay đổi theo thứ tự:
1.      Bụng
2.      Cánh tay
3.      Đùi
4.      Mông
Cần xoay vòng và thay đổi vị trí mỗi lần tiêm để tránh rối loạn dưỡng mô mỡ.
Khuyến cáo cho bệnh nhân dấu hiệu hạ glucose huyết: đói lả, đổ mổ hôi, xanh xao, tim đánh trống,… khi đó cần phải bổ sung đường huyết cho bệnh nhân.
+ Paracetamol 0,625g 1 x 2 uống
Thuốc gây kích ứng dạ dày nên cần uống khi no bụng, uống khi bụng đói có thể gây buồn nôn, nôn. Không dùng quá 4g/ngày do có thể gây hoại tử gan, suy gan và suy thận.
+ Rosuvastatin 10mg 1 viên uống chiều tối để thuốc đạt hiệu quả tốt nhất.
Đề xuất tăng liều lên 20mg/ngày.Giải thích với bệnh nhân rằng việc uống vào lúc chiều tối là lúc cơ thể tổng hợp cholesterol nhiều nhất, uống vào ban sáng thuốc ít phát huy tác dụng.
Cần phải báo ngay cho bác sĩ nếu có triệu chứng đau cơ, teo cơ… Nếu có tác dụng phụ trên, cân nhắc giảm liều statin xuống liều trung bình – thấp hoặc thay đổi thuốc hạ lipid máu khác.
Cần kiểm tra lại Lipid máu sau 4-6 tuần điều trị để đánh giá đã đạt mức LDL-C mục tiêu chưa để chỉnh liều, hoặc thay đổi thuốc hoặc phối hợp thuốc.
+ Clopidogrel 75 mg 1 uống
Clopidogrel tăng nguy cơ chảy máu và thời gian chảy máu, vì thế khi bệnh nhân có sơ ý làm chảy máu như vấp ngã, va chạm nhẹ gây chảy máu, cần phải báo ngay cho nhân viên y tế. Đồng thời nếu cần có can thiệp ngoại khoa, bác sĩ nội khoa và dược sĩ lâm sàng cần phải thông báo cho bên Ngoại khoa.
Clopidogrel còn làm tăng nguy cơ chảy máu dạ dày tá tràng, vì thế bệnh nhân cần thông báo với nhân viên y tế nếu có triệu chứng đau bụng, tiêu chảy phân đen…
+ Irbesartan 150mg 1 viên uống
Cần kiểm soát huyết áp đạt mức < 140/90 mmHg, và lý tưởng nhất là ≤ 130/80 mmHg (HHTT ≥ 120 mmHg; HATr từ 70 – 79 mmHg). Bệnh nhân có nguy cơ tim mạch rất cao, cần theo dõi huyết áp bệnh nhân trong vòng 3 tháng khi điều trị ngoại trú.
·        Đề xuất thay đổi thuốc:
1.      Tăng liều rosuvastatin cho bệnh nhân từ 10mg/ngày lên 20mg/ngày (tăng từ liều trung bình thành liều cao theo khuyến cáo của Hội tim mạch Việt Nam 2015 và ATP IV).
Mục tiêu điều trị: LDL-C <1,8 mmol/L (70mg/dL) và/hoặc giảm được ≥ 50% mức LDL-C nền khi không đạt được mục tiêu trên (dựa theo khuyến cáo của Hội tim mạch Việt Nam 2015, ESC/EAS 2016).
·        Các thuốc cần tránh:
        Các thuốc làm tăng tình trạng tăng đường huyết: corticoid, niacid, Diazoxide, cyclophosphomid, lợi tiểu thiazid, siro ho…
        Cần tránh sử dụng NSAIDs trên bệnh nhân đang điều trị bằng Moxifloxacin, do nguy cơ gây co giật, động kinh…
        Cần chú ý β-blocker làm che dấu dấu hiệu hạ đường huyết.
        Các thuốc ức chế CYP450 hoặc cảm ứng CYP450 làm thay đổi nồng độ của rosuvastatin, vì thế:
+ Cần tránh những thuốc ức chế CYP450 như: clarythromycin, erythrocmyin, ketoconazol, fluconazol, cimetidin, nước bưởi ép… Các thuốc này làm tăng nồng độ của rosuvastatin, có thể gây đau cơ, teo cơ vân, hội chứng tiêu cơ vân cấp…
+ Cần tránh những thuốc cảm ứng CYP450 như: Carbamazepin, phenytoin, ritonavir…